05/27/2026
Vị đại ân nhân của người Việt tỵ nạn
Tác giả: Tiểu Lục Thần Phong
---------
Tháng Tư đen đã qua nhưng dư âm vẫn còn vọng trong lòng người. Hơn năm mươi năm trôi qua, mỗi độ tháng Tư về, vết thương dù đã lành da nhưng nỗi đau vẫn âm ỉ khôn nguôi. Nước mất nhà tan là nỗi đau lớn nhất của tất cả những người yêu dân tộc, yêu quốc gia.
Sài Gòn sụp đổ đã đẩy hàng chục ngàn người vào cuộc di tản hỗn loạn, rồi tiếp sau đó là hàng trăm ngàn người vượt biển, vượt biên, lao vào cõi chết để tìm sự sống. Bi kịch thuyền nhân đã trở thành một trong những thảm họa nhân quyền lớn nhất thế kỷ XX. Theo ước tính của các tổ chức nhân quyền, có tới gần 500.000 người Việt đã vĩnh viễn nằm lại dưới đáy Biển Đông. Tàu chết máy, hết lương thực, gặp hải tặc, bão tố…
Những hình ảnh kinh hoàng ấy đã được ghi lại trong vô số sách báo, phim ảnh. Thế giới gọi họ bằng một cái tên buồn: Boat People -Thuyền Nhân.
Sài Gòn sụp đổ, hàng triệu gia đình ly tán, mất hết tài sản, chết chóc. Hàng trăm ngàn quân dân cán chính miền Nam bị đưa vào tù cải tạo, trong đó hàng chục ngàn người đã chết nơi ngục tù, rừng sâu, núi thẳm…
Trong cơn khốn cùng, điêu đứng và tuyệt vọng ấy, phép lạ đã hiện ra từ phương Tây. Nhiều con người nhân ái và quả cảm đã dang tay cứu vớt. Tiêu biểu là tàu Cap Anamur (Đức) và Ile de Lumiere (Pháp) đã cứu hàng chục ngàn thuyền nhân. Đặc biệt nhất là Jimmy Carter, vị tổng thống thứ 39 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đã trực tiếp ra lệnh cho hải quân Mỹ cứu vớt thuyền nhân trên đại dương. Hạm đội bảy đã điều động 5 tuần dương hạm tham gia cứu hộ. Năm 1980, ông ký Đạo luật Tỵ nạn (The Refugee Act of 1980), mở rộng cửa đón nhận người tỵ nạn Đông Dương. Dù đối mặt với sự phản đối gay gắt từ một số lực lượng bảo thủ, Jimmy Carter vẫn kiên quyết đẩy mạnh việc tiếp nhận người tỵ nạn mỗi tháng từ 7.000 lên đến 14.000 suốt những năm trong nhiệm kỳ của ông. Đích thân Jimmy Carter còn yêu cầu thủ tướng Menachem Begin của Do Thái cùng tham gia cứu giúp, nhắc nhở rằng người Do Thái cũng từng là những nạn nhân tỵ nạn khắp nơi trên thế giới.
Trước những tiếng nói chống đối, Tổng thống Carter đã tuyên bố mạnh mẽ: “Cho tôi nhắc quý vị rằng, Mỹ là một quốc gia của những người di dân, của những người tỵ nạn. Những người tỵ nạn Đông Nam Á từng là đồng minh của chúng ta trong chiến tranh Việt Nam. Họ đang chạy trốn khỏi một đất nước, nơi mà họ bị tước hết mọi quyền căn bản của con người”. Những thuyền nhân trên biển, những tù nhân của các trại tù cải tạo…đã đến được bến bờ tự do cũng nhờ đạo luật tỵ nạn, nhờ tình thương lớn, nhờ sự tranh đấu quyết liệt của vị tổng thống nhân ái đến từ tiểu bang Georgia. Những người tỵ nạn không chỉ được đến Mỹ mà còn được trợ giúp rất nhiều để làm lại cuộc đời. Tổng thống Jimmy Carter và chính phủ do ông lãnh đạo đã cấp ngân khoản cho sở an sinh xã hội để giúp người tỵ nạn học tiếng Anh, dạy nghề, giúp chỗ ở ban đầu, giúp thực phẩm, y tế… Nhờ đó, biết bao gia đình Việt Nam đã có cơ hội làm lại cuộc đời và vươn lên thanh đạt như ngày hôm nay.
Jimmy Carter sinh ra và lớn lên ở tiểu trấn Plains, thuộc vùng Tây Nam của tiểu bang Georgia. Từ thuở nhỏ, ông rất thông minh, ham đọc sách và có tinh thần cầu tiến. Sau này, ông theo học tại đại học kỹ thuật Georgia, Đại học Union, Học viện hải quân Hoa Kỳ. Ông từng là kỹ sư hạt nhân và phục vụ trong lực lượng tàu ngầm của hải quân Hoa Kỳ. Ông là thống đốc thứ 76 của Georgia trước khi trở thành tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ. Trong cuộc tranh cử tổng thống, ông từng tuyên bố: “Thời kỳ phân biệt chủng tộc ở đây đã qua rồi”. Đây là một lập trường đầy can đảm và nguy hiểm trong bối cảnh miền Nam Hoa Kỳ lúc bấy giờ vẫn còn nặng nề chia rẽ. Nhiều chính khách trước ông đã phải chấm dứt sự nghiệp chỉ vì dám lên tiếng chống lại nạn kỳ thị chủng tộc.
Jimmy Carter bước vào cương vị tổng thống trong một giai đoạn vô cùng khó khăn của nước Mỹ. Nền kinh tế suy thoái sau chiến tranh Việt Nam, dư âm của vụ Watergate vẫn còn âm ỉ gây chia rẽ xã hội, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, trong khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ do OPEC gây ra khiến giá nhiên liệu leo thang và đời sống người dân thêm chật vật. Dẫu vậy, Jimmy Carter vẫn để lại những thành tựu lớn trong sự nghiệp ngoại giao trên trường thế giới. Ông đã góp phần quan trọng trong việc đưa Ai Cập và Do Thái đến với Hiệp định Trại David, chấm dứt nhiều năm chiến tranh và mở ra nền hòa bình được duy trì cho đến tận hôm nay. Ông cũng cùng lãnh đạo Liên Xô ký kết Hiệp ước SALT II nhằm hạn chế vũ khí chiến lược hạt nhân vì ông từng muốn hủy bỏ hết vũ khí nguyên tử trên trái đất này.
Jimmy Carter là một vị tổng thống nhân ái, yêu chuộng hòa bình.
Ông đã ký nhiều đạo luật bảo vệ môi trường, đồng thời thành lập khu công viên quốc gia Alaska với một diện tích khổng lồ. Ông ân xá cho những người trốn quân dịch trong chiến tranh Việt Nam, thể hiện tinh thần bao dung và nhân văn.
Sau khi rời Nhà Trắng, Jimmy Carter tiếp tục con đường nhân đạo bằng việc thành lập Trung tâm Carter và tích cực hỗ trợ tổ chức Habitat for Humanity. Thông qua các hoạt động cứu trợ, ông đã mang lại hy vọng cho hàng triệu người nghèo khổ không chỉ tại Mỹ mà còn trên khắp thế giới. Habitat for Humanity dưới sự chung tay của ông đã xây dựng và cải tạo hơn 5000 ngôi nhà cho người thu nhập thấp. Bản thân ông là một thợ mộc lành nghề, thường xắn tay áo tham gia lao động trực tiếp cùng các tình nguyện viên, chung sức dựng nên những mái ấm cho những mảnh đời bất hạnh. Với những nỗ lực không mệt mỏi trong việc kiến tạo hòa bình, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền và phát triển xã hội, Jimmy Carter đã được thế giới ghi nhận. Năm 2002, ông vinh dự được trao giải thưởng Nobel hòa bình.
Ngoài ra, ông còn là một tác giả của 23 cuốn sách, nhiều cuốn trở thành sách bán chạy nhất. Tiêu biểu trong số đó là: Why Not the Best? Talking Peace: A Vision for the Next Generation, An Hour Before Daylight: Memories of a Rural Boyhood, Palestine: Peace Not Apartheid…
Tiểu bang Georgia chúng ta thật vinh hạnh khi có được một vị tổng thống nhân ái, lịch thiệp, nhã nhặn nhưng cũng rất kiên cường trong việc tranh đấu cho những người tỵ nạn. Ông là một vị tổng thống sống cho mọi người, suốt đời làm việc vì mọi người. Một trăm năm cuộc đời ông quả thật là một hành trình vô cùng trân quý.
Sau một đời phục vụ tha nhân, ông trở về an nghỉ cùng người vợ thân yêu ở tại tiểu trấn Plains. Ngôi nhà thuở thiếu thời vẫn còn nguyên vẹn ở đấy. Thư viện và Bảo tàng của ông nằm ngay tại vùng Metro của Midtown Atlanta, nơi người dân có thể đến để tri ân và học hỏi về cuộc đời ông.
Một ngày tháng Tư, tôi đã đến đây thăm viếng và thầm lặng tưởng nhớ vị tổng thống nhân hậu, vị đại ân nhân của người Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ.
----------
Trẻ 974 Ngày 22 tháng 05 - 2026