27/10/2024
BA MỨC ĐỘ CÓ THẬT TRONG TỐ TỤNG
Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) định nghĩa "Chứng cứ trong vụ việc dân sự là 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢̀ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭", Điều 80 Luật tố tụng hành chính 2015 (LTTHC 2015) cũng định nghĩa "Chứng cứ trong vụ án hành chính là 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢̀ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭" và Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) cũng định nghĩa "Chứng cứ là 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢̀ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭". Tuy nhiên, đây là "những gì có thật" (sự thật) khác nhau, được thu thập theo trình tự, thủ tục khác nhau, có ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh (standard of proof) khác nhau, phục vụ cho mục đích khác nhau.
Nhóm thứ nhất, "Chứng cứ trong vụ việc dân sự là 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢̀ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭", phục vụ cho việc chứng minh quyền lợi có tính chất lý tài (tiền tài) nhằm bảo vệ quyền lợi dân sự, "được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định" theo Điều 93 BLTTDS 2015, có mức độ ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh ở mức độ thấp nhất, được gọi là "sự vượt trội về chứng cứ" (preponderance of evidence).
Nhóm thứ hai, "Chứng cứ trong vụ án hành chính là 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢̀ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭 được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định", có ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh ở mức độ giữa, thường dùng trong các vụ việc hành chính mang tính chất nghiêm trọng như xem xét việc tước quốc tịch, hoặc thực hiện việc trục xuất, được gọi là những "chứng cứ rõ ràng và thuyết phục" (clear and convincing evidence).
Nhóm thứ ba, "Chứng cứ là 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐠𝐢̀ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐭", được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định, được làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, có ngưỡng tiêu chuẩn chức minh ở mức độ khắc khe nhất, được gọi là "vượt qua nghi ngờ hợp lý" (beyond a reasonable doubt). Nghĩa là, nếu còn câu hỏi "nghi ngờ hợp lý" thì Tòa án phải trả hồ sơ cho Viện Kiểm sát và Cơ quan điều tra làm rõ những chỗ nghi ngờ hợp lý, trước khi Tòa án kết tội bị cáo.
Chứng minh cái gì cũng phải có giới hạn, đó là giới hạn về thời gian tố tụng và giới hạn ngưỡng chứng minh. Nếu đòi hỏi phải chứng minh quá rộng thì có thể không tập trung làm rõ được những vấn đề bản chất của vụ án hoặc rời vào tình trạng "bất khả tri", kết luận mơ hồ, không biết thế nào cho đủ, làm cho vụ án không có điểm dừng. Trong tố tụng dân sự mà đòi hỏi các đương sự phải chứng minh đạt đến ngưỡng của chứng minh tội phạm của cơ quan điều tra thì không một tư nhân nào làm nổi, kể cả thuê thám tử tư.
Ví dụ: Căn cứ vào giấy mượn xe, có chữ ký của bị đơn, tòa án có thể buộc bị đơn phải trả xe hoặc bồi thường bằng tiền cho nguyên đơn, mà không cần biết là bị đơn đã mượn xe để dùng vào việc gì, mất hay còn, hoặc mất vì lý do gì. Nhưng cũng giấy mượn xe ấy, mặc dù có sự thừa nhận của bị cáo về việc có mượn xe, sau đó đem bán để đánh bạc, thì Tòa án chưa thể kết tội bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì theo khoản 2 Điều 98 BLTTHS 2015 thì: "Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội". Để kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 BLHS 2015, cơ quan công an còn phải lấy lời khai, đối chất, và các chứng cứ khác, sao cho khớp nhau và khớp với lời nhận tội của bị can, bị cáo, chứ không thể đơn giản như bên dân luật là căn cứ vào giấy mượn xe. Bởi trong thực tiễn có những người vì lý do nào đó, tự nguyện viết "đơn xin ở tù", kèm theo chứng cứ, nhưng không phải vì thế mà được ở tù. Tuy nhiên, có ông nào đó nổi hứng viết giấy nhận nợ mà bị kiện đòi nợ thì tòa án không có cách nào khác là buộc "ông nổi hứng" này phải trả nợ!
Tiêu chuẩn chứng minh hợp đồng vô hiệu do lừa dối trong dân luật là tiêu chuẩn thấp, như "treo đầu dê, bán thịt chó" thì chỉ cần chỉ ra cái đầu dê treo chềnh ềnh ra đó, là đủ để chứng minh lừa dối khách hàng theo điều 127 BLDS 2015. Một người ăn mặc như người dân tộc thiểu số, mang gùi như người đi từ trên núi cao xuống đồng bằng, bán mật ong thì người mua nghĩ đó là mật ong rừng. Nếu không phải là mật ong rừng thì tức là ông lừa người ta theo điều 127 BLDS 2015. Đối với vụ án Konica Minolta, tôi chỉ cần chỉ ra tập đoàn Konica Minolta đến từ Nhật Bản, cùng với người Nhật đi tới đi lui chỗ tôi, mà bán hàng xuất xứ Trung Quốc là ông lừa tôi rồi, chẳng khác chi "treo đầu dê bán thịt chó". Đó là chưa kể giá cao gấp ba lần giá bán cho người khác, mà cả hai máy in, C1070P và C1100, chênh lệch đến 2,66 tỉ đồng, chứ chẳng phải ít. Tôi không chỉ chứng minh bằng lời nói, bằng văn bản mà tôi còn mua thêm một máy C1100 để đối chứng. Những gì tôi đã làm được đối với vụ án Konica Minolta là đã "vượt qua nghi ngờ hợp lý" - một tiêu chuẩn chứng minh trong tố tụng hình sự. Thế nhưng các thẩm phán Phù Quốc Tuấn, Nguyễn Thu Chinh, Nguyễn Thị Lang, Bùi Ngọc Anh đã cố tình lờ đi tất cả chứng cứ để chạy tội cho Konica Minolta. Tòa án và Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh cứ như đánh đố tôi phải chứng minh hết tình tiết, sự kiện này đến tình tiết, sự kiện khác, gần như bất tận, dẫn đến hồ sơ vụ án có hơn 2500 bút lục. Mà cũng xui cho họ, nhờ thế mà chứng cứ buộc tội Mafia trong ngành tư pháp ngày càng vững chắc.
Sự thật (có thật) trong thế giới tự nhiên khác với xã hội. Sự thật trong vật lý khác với sự thật trong tình cảm. Cô gái nào mà đòi hỏi người đàn ông phải chứng minh tình yêu theo kiểu giác quan "mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, chân tay sờ mó" thì không một chàng trai nào làm nổi. Một người dân có quyền lợi bị xâm phạm, yêu cầu tòa án giải quyết, mà Thẩm phán cứ đánh đố như cô gái kia, "mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, chân tay sờ mó" thì cũng không một đương sự nào làm nổi, chỉ có thể chi tiền cho Thẩm phán để thẩm phán chứng minh dùm.
Tại phiên tòa ngày 18/10/2024, trước đòi hỏi vô lý của Thẩm phán Phùng Thị Như Mai, tôi nói với bà như quát: "Có gì ra hỏi Chánh án Nguyễn Hòa Bình", và sau đó, y như rằng, bà đã gửi hồ sơ ra Hà Nội. Và Konica Minolta cùng với Tòa án và Viện Kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh đã thua trên bầu trời Hà Nội. "Những gì có thật" đối với vụ án Konica Minolta đã được tôi chứng minh vượt qua ngưỡng nghi ngờ hợp lý - một tiêu chuẩn khắc khe nhất chỉ dùng trong tố tụng hình sự./.